Hệ thống máy gia tốc xạ trị

Hệ thống máy gia tốc xạ trị

Trước đây, việc xạ trị ung thư ở Việt Nam chỉ được thực hiện bằng máy xạ trị Cobalt, một loại máy xạ trị sử dụng đồng vị phóng xạ Cobalt-60 . Sử dụng các tia gamma, có hai mức năng lượng 1,17 và 1,33MeV. Như vậy, trong xạ trị ung thư, loại máy này không cho phép thực hiện kỹ thuật điều biến cường độ (IMRT) không điều trị linh động, hiệu quả với các khối u ở những độ nông sâu khác nhau.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ vi sóng, các loại máy gia tốc ra đời với những nguồn phát sóng siêu cao tần. Trong xạ trị, sự ra dời của máy gia tốc là một bước ngoặt mới trong điều trị ung thư. Với máy gia tốc, người sử dụng có thể thay đổi liều xạ trị cho phù hợp với tính chất và độ nông sâu của từng khối u khác nhau.

linac_diagram

Sơ đồ máy xạ trị gia tốc linac

1. Tổng quan:

Máy gia tốc là thiết bị công nghệ cao, cho phép gia tốc các loại hạt mang điện tới những năng lượng khác nhau: từ thấp đến cao và siêu cao. Ngoài ra, với chùm hạt thứ cấp đa dạng thu được sau quá trình gia tốc các hạt mang điện Neutron, Meson, các ion nặng… đã mở rộng phạm vi ứng dụng của máy gia tốc. Vì vậy có thể coi máy gia tốc là một nguồn phóng xạ nhân tạo đặc biệt phát ra đủ các loại hạt có cường độ và năng lượng mong muốn.

2. Máy gia tốc xạ trị:

Với ứng dụng trong xạ trị ung thư, máy gia tốc tuyến tính (linac) của hãng Siemens có thể tạo ra các chùm bức xạ photon và electron với năng lượng thích hợp cho việc điều trị các trường hợp ung thư khác nhau. Máy có thể phát ra hai loại bức xạ. Đó là bức xạ Photon và bức xạ electron.Với mỗi loại bức xạ, máy phát có nhiều mức năng lượng khác nhau do đó có thể sử dụng rất linh hoạt và hiệu quả cho mọi loại bệnh ung thư khác nhau.

Các mức năng lượng cÇn thiÕt của máy gia tốc tuyến tính (với người Việt Nam):

Máy gia tốc tuyến tính có thể phát ra 2 mức năng lượng photon và 6 mức năng lượng electron.

a. Hai mức năng lượng photon 6 MV và 15 MV

1.1) 6MV: điều trị não, đầu, cổ, ngực, phổi, bệnh bạch huyết, thấp chóp xương chậu và các bệnh trẻ em.

1.2) 15MV: điều trị não, phổi, bệnh bạch huyết, tuyến tụy, thấp chóp xương chậu và thấp khung chậu.

b. Sáu mức năng lượng điện tử Eletron 5MeV, 6 MeV, 8 MeV, 10 MeV, 12 MeV, 14 MeV điều trị hiệu quả khối u ở sát bề mặt như ung thư da và ung thư vú.

3. Những tính năng ưu việt mới:

Máy gia tốc có những tính năng ưu việt sau:

- Đầu máy có thể chuyền động quanh giường bệnh nhân, giúp dễ dàng tạo ra các góc chiếu khác nhau.

- Đầu máy có gắn ống chuẩn trực (collimator) giúp định hướng tốt chùm bức xạ.

- Collimator cũng có thể xoay quanh trục, giúp trường chiếu bao sát khối u hơn, nhờ việc chọn hướng tối ưu.

- Có hai cặp ngàm chuyển động độc lập, hoặc đối xứng giúp dễ dàng trong việc tạo ra các trường chiếu có độ mở khác nhau tùy vào yêu cầu.

- Nhờ cặp ngàm này mà có thể tiến hành xạ trị theo một kĩ thuật mới-Kĩ thuật xạ trị tiên tiến JO-IMRT (xạ trị điều biến cường độ) mà không cần ống chuẩn trực đa lá MLC (Multi-lief collimator)

4. Kỹ thuật xạ trị tiên tiến nhất JO – IMRT được sử dụng tại Mỹ và Châu Âu:

Đây là kỹ thuật xạ trị tiên tiến nhất hiện nay, nhằm tạo ra phân bố liều lượng tối ưu trên các khối u có hình dạng phức tạp, bằng việc điều biến cường độ chùm tia bức xạ – IMRT (Intensive Modulation Radio Therapy) với hai cặp ngàm (Jaw) có lắp sẵn trên đầu máy gia tốc.

Đối với mỗi góc chiếu thì sẽ có nhiều trường chiếu khác nhau được tạo nên bằng hai cặp ngàm, để có thể tạo ra được một kế hoạch điều trị tốt nhất.

5. Lợi ích của kỹ thuật JO – IMRT:

5.1) Điều trị bệnh nhân được kết quả tốt hơn.

5.2) Giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái nhờ thời gian điều trị được rút ngắn.

5.3) Tiết kiệm thời gian và tiền bạc vì không cần phải đúc khuôn chắn xạ.

5.4) Trong khi điều trị kỹ thuật viên không phải đi ra đi vào nhiều lần để thay đổi khuôn chắn và nêm.

5.5) Bệnh nhân không bị electron tán xạ gây ra bởi khuôn chắn và nêm.

5.6) Mô tơ của ngàm rất bền, không hay bị hư hỏng như mô tơ của ống chuẩn trực đa lá (MLC) – Tiết kiệm được tiền bảo dưỡng do máy hư háng.

6. So sánh giữa máy Cobalt và gia tốc:

Đối với những khối u nằm rất nông, khi tia xạ của máy cobalt xuyên qua da vào đến nơi thì liều xạ vẫn còn quá lớn so với yêu cầu (100% ở độ sâu cách mặt da 0,5 cm). Trường hợp này sẽ được xử lý rất tốt với máy gia tốc, bởi các chùm điện tử có thể giảm rất nhanh, đáp ứng yêu cầu điều trị. Hơn nữa, tia xạ sẽ mất hẳn ở độ sâu 5 cm. Cả hai điều này khiến những vùng lành ít bị tổn thương hơn.

Đối với những khối u ở sâu, ví dụ như một khối u nằm giữa phổi, cách bề mặt da trung bình 8 cm, liều xạ của máy cobalt khi vào đến đây lại quá thấp, chỉ còn 40%, trong khi liều xạ của máy gia tốc có thể đạt 70%, giúp việc điều trị đạt hiệu quả.

Ngoài ra, máy gia tốc còn an toàn hơn vì nó ngừng phát tia khi tắt máy, còn ở máy cobalt thì chất phóng xạ vẫn phân rã và phát tia liên tục.

4. Kết luận:

Với sự ra đời của máy gia tốc, chất lượng, hiệu quả của việc xạ trị ung thư ngày càng được cải thiện, tính năng ưu việt của nó nổi trội hơn hẳn máy Cobalt. Nó cho ta nhiều sự lựa chọn hơn khi phải điều trị với các loại ung thư khác nhau ở những người khác nhau. Với máy gia tốc của Siemens được trang bị ngàm chuyển động độc lập, MLC thì ta có thể dẽ dàng tiến hành các kĩ thuật xạ trị tiên tiến mới-xạ trị điều biến cường độ, nâng cao hơn nữa hiệu quả xạ trị. Ngoài ra máy gia tốc khi sử dụng thì còn an toàn hơn rất nhiều so với máy cobalt.

Với những đặc tính ưu việt của máy gia tốc. Đấy chính là lí do tại sao máy gia tốc ngày nay được sử dụng phổ biến, thay thế máy cobalt cổ điển.

diendanthietbiysinh

About these ads
This entry was posted in Thiết bị điều trị. Bookmark the permalink.