Từ điển y học Việt Nam – Mục WX

WHO (A. World Health Organization), x. Tổ chức Y tế Thế giới.

WMA (A. World Medical Association), x. Hiệp hội Y khoa Thế giới.

XQUANG x. Tia Rơnghen

XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH sự hình thành những cá thể theo giới tính nhất định tuỳ thuộc vào tổ hợp những nhân tố di truyền nằm trong nhiễm sắc thể (sự xác định di truyền của giới tính) hoặc tuỳ thuộc những điều kiện môi trường bên trong và bên ngoài mà ở đó các giao tử hoặc hợp tử hìnhh thành (tức sự xác định phenotip của giới tính).

XÁC ĐỊNH TUỔI BẰNG PHÓNG XẠ các phương pháp xác định tuổi của các lớp đất, các hoá thạch căn cứ vào lượng sản phẩm phân huỷ của các nguyên tố phóng xạ. Quá trình phân huỷ của các nguyên tố này diễn ra trong thiên nhiên với tốc độ rất đều đặn, không phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Thường dùng 235U có chu kì bán huỷ là 4,52 tỉ năm. Một gam 235U mỗi năm sinh ra 7,4.10-9 g 206 Pb và 9.10-6 cm3 He (heli). Bằng phân tích chính xác có thể xác định khối lượng Pb (chì), thể tích khí He và khối lượng U (urani) hiện có trong mẫu quẵng, từ đó suy ra tuổi của mẫu với độ chính xác vài trăm năm. Người ta cũng hay dùng 40K vì nguyên tố này phổ biến trong nham thạch cũng như trong đá trầm tích. Để xác định tuổi những hoá thạch tương đối mới, người ta dùng cacbon phóng xạ. Trong quá trình dinh dưỡng, thực vật và cả động vật cũng hấp thụ 12C và 14C. Khi sinh vật đang sống thì tỉ lệ 12C, 14C không đổi. Sau khi chết, sinh vật ngừng hấp thụ cacbon và 14C bắt đầu phân rã. Chu kì bán rã của 14C là 5.700 năm. Phân tích cacbon trong các hoá thạch có thể xác định tuổi của nó chính xác tới vài trăm năm.

XÁC ĐỊNH TUỔI BẰNG CACBON 14C x. Xác định tuổi bằng phóng xạ.

XÁC ƯỚP x. Ướp xác.

XANH MÊTILEN (A. methylene blue), phẩm màu thuộc nhóm thiazin. Tinh thể màu xanh lục (lam sẫm), có ánh kim. Tan trong nước, etanol. Dùng làm chất chỉ thị trong hoá phân tích, làm thuốc sát trùng, thuốc giải độc xianua, thuốc giảm đau, phẩm nhuộm, mực viết, vv.

XANH TÍM ĐẦU CHI tình trạng da ở đầu các ngón chân, tay, kể cả phần móng chuyển từ màu hồng bình thường sang màu phớt xanh và tím do tăng cao nồng độ hemoglobin khử (không bão hoà oxi) tại các mao mạch ngoại vi; thường kèm theo tím môi. Nguyên nhân thường gặp: tiếp xúc với lạnh, giảm áp suất khí quyển khi ở độ cao lớn; rối loạn chức năng thông khí phổi, viêm phổi, tắc mạch phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy hô hấp; suy tim, một số bệnh tim bẩm sinh có luồng thông giữa tim phải và trái; tắc động mạch hoặc tĩnh mạch; dị thường của hemoglobin (chất vận chuyển oxi trong lòng mạch máu), vv.

XĂM MÌNH tục trang điểm có từ lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới, phổ biến ở vùng biển (vd. Thái Bình Dương). Về sau do các thuỷ thủ qua lại bắt chước nên XM phát triển rộng. Ở Việt Nam, các dân tộc ở Tây Nguyên XM nhiều hơn các dân tộc khác. Người ta dùng những đầu nhọn, sắc bằng gỗ cứng hay ngà voi, xương, kim loại…châm thành hình người, thần, muông thú, hoa lá, chữ, các dấu hiệu, biểu tượng…lên bề mặt da (có trường hợp xăm đến 96% tổng diện tích da), rồi rắc than, bột đen, bôi chàm hay phẩm màu lên. Khi vết xăm lành, để lại hình và màu. Lúc đầu, người ta XM với mục đích tự vệ vì cho rằng khi lặn xuống nước các loài thuỷ quái trông thấy phải sợ (cư dân Lạc Việt) và các thú dữ khác, tà ma, bệnh tật, gió độc, tai biến, rủi ro…đều phải kị. Tiến tới thành phong tục như xăm mặt cho cô dâu ở Đài Loan , rạch lưng trước khi cưới ở Ôxtrâylia, xăm trên da bụng khi có mang ở một số bộ lạc Châu Phi, để lại dấu ấn của một việc làm dũng cảm, hoặc để ghi nhớ những kỉ niệm cuộc đời, để biểu hiện sự sùng đạo, để tiến hành một nghi lễ thiêng liêng, để tỏ rõ quyết tâm, như thời Trần nước Đại Việt (thế kỉ 13), quân sĩ xăm hai chữ “Sát Thát” (giết giặc Nguyên) vào cánh tay, dân xăm lên bụng hàng chữ “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” (“Vì nghĩa liều thân, báo đền ơn nước”). Lúc đó tục XM rất phổ biến, trình độ nghệ thuật cao. Vua, quan, quân, dân đề XM, và đã có thợ chuyên vẽ XM. Ngày nay, nhiều hải cảng lớn ở Anh, Đức, Hà Lan…có những cơ sở và dịch vụ chuyên nghiệp XM nổi tiếng, trước hết phục vụ các thuỷ thủ.

XEM TƯỚNG xem mặt và hình dáng con người để suy đoán vận mệnh. Tục XT thịnh hành từ lâu. Người ta chia khuôn mặt ra làm 12 cung, mỗi cung ứng với một việc. 1) Ấn đường (ở hai bên lông mày) gọi là mệnh cung, chủ về bản mệnh; 2) Tài bạch (hai cánh mũi) chủ về của cải; 3) Huynh đệ (hai bên đầu lông mi) chủ về anh em; 4) Điền trạch (hai con mắt) chủ về nhà cửa, ruộng vườn; 5) Ngoạ tàm (hai ổ dưới mắt) cung về nam nữ, chủ về đường con cái; 6) Ngự vĩ (hai bên đuôi mắt) cung thế thiếp, chủ về đường vợ chồng; 7) Địa các (dưới cằm)là cung nô bộc, chủ đường tôi tớ, kẻ hầu người hạ; 8) Sơn côn (sống mũi) là cung tật ách, chủ về bệnh tật; 9) Thiên di (hai bên gò má) chủ đường đi xa; 10) Quan lộc (đỉnh trán) chủ đường công danh; 11) Phúc đức (ngoài cung thiên di, ở bên sát trái tai) chủ về phúc ấm gia đình; 12) Phụ mẫu (ở gò trái đôi bên) chủ việc cha mẹ. Lại chia mặt làm ba, gọi là tam đình: thượng, trung, hạ quan hệ đến phần trên, phần giữa, phần dưới của mặt. Việc phân chia ra các cung, các phần dựa theo cách tính của Kinh Dịch với thuyết âm dương, ngũ hành, ứng với chu kì 12 năm: Tí, Sửu, Dần, Mão, vv.
XT còn lưu ý đến hình dáng, tư thế, cách đi đứng của con người. Ngoài ra còn nhiều cách xem: vân tay, tai, miệng, tóc, râu, tướng ngồi, đi đứng, ăn, nằm, lời ăn tiếng nói, vv. Nhưng cơ bản là xem thần khí.
Trong dân gian thường theo kinh nghiệm mà đoán định. XT chưa thể coi là một khoa học, khó có thể tin được; nhiều người coi là mê tín.

XEM VÂN TAY thường coi là một bộ phận của xem tướng (x. Xem tướng). Bàn tay được chia thành tám cung: kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài, ở giữa là minh đường. Tuỳ theo hình dáng của từng cung ứng với các công việc trong đời sống. Cung kiền tới phụ mẫu; cung khảm tới cơ nghiệp; cung cấm tới việc làm ăn; cung chấn, đường vợ con, vv. Mỗi ngón tay cũng có một tướng riêng tuỳ theo hình dáng mà đoán định.
Chịu ảnh hưởng cách XVT của phương Tây, nhiều người cũng định cho từng đường vân tay ứng với từng công việc trong đời sống: đường thọ, đường tình ái, tướng con cái, tướng công danh, vv.
XVT cũng có sách học, rất khó xác định sai, đúng. Vân tay rất có giá trị trong khoa học hình sự.

XÉT NGHIỆM TỨC THÌ xét nghiệm được thực hiện ngay, cho kết quả ngay sau đó. Trong y học, thường dùng để chỉ những xét nghiệm cần làm khẩn cấp và cho kết quả nhanh chóng. Vd. phẫu thuật viên trong khi mổ chưa xác định được khối u của bệnh nhân là lành tính hay ác tính; XNTT về mô học cho phép xác định nhanh chóng (trong vòng 15 phút) tính chất của u, giúp cho phẫu thuật viên chọn cách xử trí thích hợp.

XÍ TỰ HOẠI thiết bị vệ sinh trong nhà bao gồm chậu xí (để tiếp cận phân), thiết bị truyền dẫn đưa phân vào bể tự hoại, tại đó phân tự huỷ hoại theo phương pháp vi sinh.

XOA BÓP x. Liệu pháp xoa bóp.

XOANG (cg. Khoang), 1. (động vật), khoang trống, một hốc, một chỗ phình hoặc các túi trong cấu tạo cơ thể sinh vật. Trong các X có thể lấp đầy nội quan chỉ thừa lại khoảng trống nhỏ như X màng bụng, X màng phổi… hoặc khoang trống như X mũi, X miệng, X mắt. Nguồn gốc do quá trình phân cắt trứng hình thành nên các lá phôi và quá trình biệt hoá các lá phôi này.
2. (thực vật), khoang trống còn lại trong một tế bào đã mất đi các chất sống và được bao bọc bởi các vách tế bào, vd. X trong các yếu tố gỗ.
3. Ở người, có nhiều X: X xương – một hốc rỗng trong xương (vd. X xương sọ , X mặt cạnh mũi…); X tĩnh mạch – một đoạn tĩnh mạch phình to (X tĩnh mạch dọc trên trong họp sọ); X tim hay nút khoang Keith và Flack – một tập hợp tế bào gần chỗ nối tĩnh mạch chủ trên và tâm nhĩ phải, nơi phát động nhịp tim bình thường (nhịp xoang).

XOANG BAO MANG 1. Phần xoang tim nhận máu từ tĩnh mạch đưa đến.
2. Phần chính của xoang tai giữa nằm phía dưới xương búa.
3. Ở động vật lưỡng tiêm và động vật có bao, là xoang bên ngoài chuyên nhận nước từ mang chảy vào.

XOANG BAO TIM xoang giữa lớp trong của màng bao tim và màng sát mặt tim.

XOANG ĐỘNG MẠCH CẢNH phần phình gần chỗ xuất phát của động mạch cảnh trong ở cổ, chứa các thụ quan cảm giác điều khiển sự thay đổi huyết áp (x. Thụ quan áp lực).

XOANG MẶT (cg. Xoang cạnh mũi), các hộc khí nằm trong xương mặt hoặc xương sọ, lưu thông với mũi. Gồm có: xoang hàm, xoang sàng, xoang trán, xoang bướm. Tất cả các xoang đều tiếp giáp với ổ mắt; xoang trán, xoang sàng, xoang bướm gần kề với não. Xoang sàng liên quan mật thiết với răng. Xoang hàm, xoang sàng đã có từ lúc mới sinh, các xoang khác phát triển về sau: xoang bướm phát triển từ 4 – 5 tuổi; xoang trán từ 7- 8 tuổi. Vào khoảng 9 – 10 tuổi, các xoang đã tương tự như ở người lớn. Các xoang thường phát triển không giống nhau ở hai bên và giữa các cá thể; vd. Xoang trán khác nhau tuỳ từng người, nên có thể dùng làm đặc điểm nhận dạng.

XOANG MIỆNG xoang qua đó thức ăn được đưa vào ống tiêu hoá, được lót một lớp biểu mô hình vẩy xếp thành tầng, nguồn gốc từ lá phôi ngoài và một phần phôi khẩu. Ở động vật có vú, XM được má và môi bao quanh, giữ cho thức ăn không rơi ra ngoài khi nhai. Trong XM, có lưỡi là cơ quan vị giác và hỗ trợ cho việc nuốt, các ống dẫn nước bọt để thấm ướt và đôi khi tiêu hoá một phần thức ăn. Ở những động vật có xương sống khác, XM không có má nên chúng không nhai thức ăn mà phải nuốt hết cả vào ruột. Ở động vật không xương sống, XM rất đa dạng, phụ thuộc vào dạng thức ăn và phương thức tiêu hoá.

XOANG TAI GIỮA x. Tai giữa.

XOANG TĨNH MẠCH xoang có thành mỏng nằm phía sau và dưới tim ở cá và lưỡng cư, nhânj máu tĩnh mạch (máu bị mất oxi) từ các mô của cơ thể dồn về, trước khi về tim. Ở các động vật có xương sống khác, XTM nhập vào tâm nhĩ phải.

XOANG TUỶ xoang giữa của răng động vật có vú, chứa mô liên kết (tương tự keo), mạch máu, bạch huyết và các sợi thần kinh, được bọc trong lớp đentin. Nguồn gốc từ các nhánh đi qua rãnh tuỷ. Lớp ngoài tuỷ răng chứa các tế bào chuyên hoá (nguyên bào răng), gồm các sợi chất nguyên sinh bám sâu vào lớp đentin. Khi sinh trưởng kết thúc, rãnh co khít lại và chỉ còn các mạch cung cấp máu đủ duy trì các tế bào sống (xem thêm minh hoạ ở mục từ Răng).

XOẮN KHUẨN (Spirochaetales), bộ vi khuẩn có hình dạng uốn lượn như làn sóng hoặc lò xo. Tế bào thường xếp riêng lẻ, có lông roi ở một hay hai cực. Hầu hết thuộc loại hoá dưỡng. Hô hấp ưa khí hoặc vi ưa khí hoặc kị khí. Một số XK gây bệnh ở động vật và người, vd. XK gây bệnh giang mai, bệnh xoắn khuẩn vàng da chảy máu, phảy khuẩn tả gây bệnh tả, vv. Xt. Bệnh leptospira.

XOẮN RUỘT tình trạng tắc ruột do một quai ruột bị xoắn lại theo một trục nhất định, xảy ra sau phẫu thuật ổ bụng gây dính do ruột bị viêm, nhu động ruột tăng, nhưng vẫn không lưu thông được thức ăn và phân. XR ở ruột non ít gặp hơn ở ruột già. XR gây tắc ruột cấp tính, hoại tử ruột rất nhanh và viêm màng bụng cấp tính, rất nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân. Cần chẩn đoán, phát hiện và mổ sớm để giải thoát đoạn ruột bị xoắn.

XỐP XƠ TAI bệnh gây điếc do ổ thương tổn ở xương (xốp và xơ) phát triển lan đến cửa sổ bầu dục, hạn chế sự vận động của xương bàn đạp, ngăn cản sự truyền dẫn của âm thanh. Bệnh có tính gia đình, nữ bị nhiều hơn và khởi phát từ tuổi thanh niên. Điều trị bằng cách phẫu thuật xương bàn đạp có kết quả tốt, hoặc có thể đeo máy trợ thính.

XƠ CỨNG trạng thái bệnh lí của một mô xơ hoá bị rắn lại (x. Xơ hoá). Xơ hoá là cơ sở mô học của XC và XC thường là biểu hiện giai đoạn cuối của xơ hoá. Về vi thể, dễ thấy XC dưới dạng thoái hoá trong. Trong thực tế, người ta có thói quen coi xơ hoá đồng nghĩa với XC.

XƠ CỨNG ĐỘNG MẠCH trạng thái bệnh lí thường do phát triển quá mức mô liên kết và mất các sợi chun làm dày cứng và yếu thành động mạch. Bao gồm: vữa cơ động mạch, xơ cứng tiểu động mạch, vôi hoá lớp áo giữa động mạch, trong đó dạng vữa xơ động mạch hay gặp nhất. XCĐM làm giảm tuần hoàn và sự tưới máu ở các vùng cơ thể tương ứng. Nguyên nhân: vữa xơ, tuổi già, ngấm vôi hoặc viêm mạn tính, vv. Dấu hiệu: động mạch nông ở dưới da cứng và ngoằn ngoèo; tăng huyết áp. Dự phòng như dự phòng vữa xơ động mạch.

XƠ CỨNG RẢI RÁC bệnh đặc trưng bởi các thương tổn xơ cứng nhỏ rải rác trong hệ thần kinh, chỉ khu trú ở chất trắng ở mọi nơi trong não, tiểu não, thân não và tuỷ sống, không thấy ở chất xám và thần kinh ngoại vi. Trước hết, các thương tổn hình thành ở vỏ myelin (chất bọc các sợi thần kinh) rồi lan ra thành mảng xơ cứng, có thể gây chèn ép. Biểu hiện lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nơi khu trú các thương tổn. Vì không đụng chạm đến các đường thần kinh tương ứng chi phối vẫn hoạt động bình thường. Căn nguyên bệnh hiện chưa xác định nhưng được xếp vào loại bệnh tự miễn. Điều trị bằng corticoid, vitamin nhóm B và sớm hồi phục chức năng khi có tổn thương vận động.

XƠ GAN bệnh gan mạn tính đặc trưng bởi tình trạng xơ hoá phát triển lan tràn của mô liên kết trong gan, bóp nghẹt các nhánh tĩnh mạch cửa và các tế bào nhu mô gan. Tuỳ theo nguyên nhân có các loại XG khác nhau: 1) XG teo Lanec (theo tên của R. Laennec, thầy thuốc người Pháp): teo gan nhỏ, cứng, sù sì như gai mít; nguyên nhân phần lớn do nghiện rượu. 2) XG do ứ mật: gan to, chắc, đau…; nguyên nhân do viêm đường mật, sỏi, sán lá gan. 3) XG do viêm gan virut B (nguyên nhân thường gặp nhất): lúc đầu gan to, vàng da, sau gan teo nhỏ dần, xuất hiện cổ trướng (bụng có nước), phù, cơ thể gầy sút, mệt mỏi, tiêu hoá kém, sau cùng chết do hôn mê, hoặc chảy máu đường tiêu hoá, hoặc ung thư hoá. Dự phòng XG: chữa sớm các bệnh gan, chống nghiện rượu, tiêm vacxin phòng viêm gan B cho trẻ em. Điều trị XG rất ít kết quả, có thể ghép gan để thay thế toàn bộ gan khi đã bị tổn thương nặng.

XƠ HOÁ hiện tượng tăng sinh các tế bào liên kết kèm theo sự sinh sản quá mức các chất gian bào trong một cơ thể như mô tuyến, mô thần kinh, mô cơ…(tăng sinh nguyên bào sợi, tế bào sợi, sợi tạo keo…), làm cho mô xơ cứng lại, một phần hay toàn bộ chức năng của mô bị ngừng trệ. Thường thấy: xơ nội bì, xơ phổi giữa các thùy và quanh phế quản, xơ bắp thịt, vv.

XƠ PHỔI tình trạng bệnh lí khi các mô liên kết (chất tạo keo, tế bào sợi) ở phổi phát triển một cách không bình thường cả về chất lượng, số lượng và tạo nên những thương tổn khu trú (lao phổi, ung thư phổi…) hoặc tản mạn, dọc theo các vách gian phế nang lên toàn bộ hệ thống nhu mô phổi (do các loại bụi, chất độc, vv.). Sự phát triển của mô xơ có thể do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài hoặc từ bên trong cơ thể. Sau một thời gian phát triển, XP có nguy cơ dẫn đến suy hô hấp.

XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH hậu quả của một quá trình lão hoá các động mạch, mỡ đọng trong thành động mạch, làm thành dày lên, mất tính đàn hồi, lòng bị thu hẹp; dòng máu sẽ chảy chậm lại, giảm lượng máu tới tưới các cơ quan có liên quan, làm rối loạn hoạt động của chúng, tạo nên các hội chứng bệnh lí. Vd. XVĐM vành dẫn tới cơ co thắt ngực, chóng mặt…; XVĐM chi dưới gây đau, chuột rút ở bắp cẳng chân, vv. Bệnh bắt đầu từ lúc trẻ tuổi, tiến triển âm thầm, lặng lẽ cho đến khoảng 50 tuổi mới bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu rõ rệt của bệnh. Dự phòng bệnh phải bắt đầu rất sớm, từ tuổi thanh niên (chống cao huyết áp, béo phì, đái tháo đường, tăng cholesterol máu; không hút thuốc lá, vv.), Chữa bệnh theo chỉ định của thầy thuốc; cần có sự hợp tác và tự nguyện cao của bệnh nhân. Xt. Xơ cứng động mạch.

XUẤT HUYẾT x. Chảy máu.

XUẤT HUYẾT DẠ DÀY x. Chảy máu dạ dày – tá tràng.

XUẤT HUYẾT DỊCH KÍNH chảy máu trong dịch kính do tổn thương thành mạch máu võng mạc vì viêm nhiễm, chấn thương hoặc biến chứng phẫu thuật, XHDK nhiều làm giảm sút nghiêm trọng thị lực: mới đầu mắt nhìn thấy màn màu đỏ che lấp, sau đó không nhìn rõ vật. XHDK do chấn thương và biến chứng phẫu thuật có thể điều trị bằng thuốc (dùng tam thất đạt hiệu quả cao). Trong trường hợp XHDK kéo dài và không tiêu, cần mổ để lấy máu và thay dịch kính.

XUẤT HUYẾT NỘI NHÃN chảy máu vào trong lòng nhãn cầu do tổn thương mạch máu vì viêm, chấn thương hoặc biến chứng phẫu thuật. XHNN có phạm vi tổn thương rộng và bao gồm tình trạng chảy máu vào tiền phòng và chảy máu vào dịch kính (x. Xuất huyết dịch kính). Cách xử trí cơ bản cũng như khi xuất huyết dịch kính. Còn có thể bằng cách trích máu tiền phòng, trong trường hợp máu lâu tiêu và có khả năng đe doạ tăng nhãn áp.

XÚC CẢM sự phản ánh tâm lí (x. Tâm lí) dưới dạng một trải nghiệm (x. Trải nghiệm) trực tiếp về ý nghĩa đời sống của các hiện tượng và tình huống, được quy định bởi quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng đối với nhu cầu của chủ thể. Trong quá trình tiến hoá, XC nảy sinh như là một phương tiện cho phép sinh vật xác định được ý nghĩa sinh học của các trạng thái cơ thể và những tác động bên ngoài. Hình thức đơn giản nhất của XC gọi là màu sắc XC của cảm giác – những trải nghiệm trực tiếp diễn ra cùng với những tác động riêng lẻ có ý nghĩa đối với sự sống (vd. nhiệt độ, mùi vị, vv.) và thúc đẩy chủ thể duy trì hay loại trừ chúng. Trong những điều kiện đặc biệt, khi chủ thể không khắc phục được tình huống nảy sinh, thì xuất hiện những xúc động (x. Xúc động). XC của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội – lịch sử thuộc về những quá trình điều chỉnh bên trong đối với hành vi, là hình thức biểu hiện chủ quan của nhu cầu. Sản phẩm phát triển cao của XC ở con người là những tình cảm ổn định (x. Tình cảm) đối với những sự vật đáp ứng các nhu cầu cao cấp của họ.

XÚC ĐỘNG dạng cảm xúc có cường độ rất nhanh, diễn ra trong một thời gian ngắn, kèm theo những thể hiện nội tạng và vận động rõ rệt. Khi XĐ, con người thường ít làm chủ được bản thân, không ý thức được hậu quả hành động của mình (hoạt động của bộ phận dưới vỏ não trội hơn hoạt động của vỏ não, sự kiểm soát của vỏ não bị suy yếu). XĐ diễn ra dưới hình thức những quá trình ngắn, theo từng “cơn” (“cơn giận”, “cơn ghen”, vv.). Nội dung và tính chất của XĐ ở người có thể nhờ sự tự kiềm chế mà biến đổi cho phù hợp với yêu cầu của tình hình (giáo viên, điệp viên, vv.)

XÚC GIÁC một trong các giác quan của cơ thể động vật, gồm những tận cùng thần kinh ở sát mặt da, giúp cơ thể phân biệt và có được 3 loại cảm giác khác nhau: nhiệt giác – cảm giác nóng lạnh khi đụng vào một vật nóng hay lạnh; thống giác – cảm giác đau khi đụng vào một vật sắc, nhọn, gây tổn hại ít nhiều cho da; xúc giác – cảm giác khi sờ mó vào một vật thì nhận biết là da của ta đã đụng vào vật gì đó, lại giúp ta phân biệt được vật đó cứng hay mềm, trơn hay ráp, mịn hay thô, tròn trĩnh hay có góc cạnh, vv. Vd. người bị bệnh phong có thể bị mất hay kém nhiệt giác, thống giác và cả XG. Do mất XG, nên bệnh nhân phong không biết dẫm vào gai, đá nhọn, dễ bị các vết thương ở gan bàn chân và các vết loét ổ gà, vv.; không cảm nhận được khi cầm một vật nóng, nên dễ bị bỏng, gây lở loét, co quắp bàn tay, ngón tay ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt.

XUỒNG CỨU SINH xuồng được làm bằng gỗ, nhựa tổng hợp hoặc bằng vật liệu đặc biệt. Tuỳ từng loại tàu mà trang bị các loại xuồng khác nhau, vd. Tàu chở dầu, chở khí đốt phải dùng xuồng chống cháy. XCS có thể được trang bị chèo tay hoặc máy, có đủ độ bền để khi hạ từ trên cao xuống nước có tốc độ rơi nhanh mà không bị vỡ, không bị chìm và có đủ lượng nước uống, thực phẩm, phương tiện phát tín hiệu liên lạc theo quy định.

XUYÊN KHUNG (Ligusticum wallichii; tk thung cùng, tăng kì), cây thảo lâu năm, họ Hoa tán (Apiaceae). Thân thẳng, rỗng ruột. Lá mọc cánh. Hoa tán kép, trắng. Quả bế đôi, hình trứng. Rễ có mùi thơm. Cây dược liệu được trồng ở miền Nam Trung Quốc và Sa Pa (Việt Nam). Rễ phơi, sấy khô, được dùng làm thuốc điều kinh, dưỡng huyết, chữa cảm mạo, nhức đầu, phong thấp, nhức mỏi, bụng đầy trướng, mụn nhọt, hoa mắt; dùng dưới dạng thuốc sắt, bột hay rượu thuốc.

XUYÊN MẠCH (tk. Thoát mạch), hiện tượng di chuyển của các phân tử hữu hình của máu (chủ yếu là bạch cầu) xuyên qua thành các tiểu tĩnh mạch, mao mạch để ra ngoài, chủ yếu nhờ chuyển động dạng amip. Là hiện tượng thường gặp trong viêm.

XUYÊN MẠCH CỦA BẠCH CẦU ĐA NHÂN hiện tượng di chuyển của bạch cầu đa nhân xuyên qua thành mạch máu. Bạch cầu đa nhân được sản ra từ tuỷ xương. Trong rất nhiều loại viêm, chúng được huy động đầu tiên và rời khỏi lòng mạch đi vào ổ viêm. Bình thường, bạch cầu đa nhân di chuyển giữa dòng trục các mạch máu, khi đến vùng viêm chúng toả ra các phía và bám dính tập trung vào bề mặt trong nội mạch mạch máu. Tiếp theo, chúng tìm các khe hở mở ra giữa các tế bào nội mô rồi luồn giả túc uốn mình chui qua, hoặc tiết ra enzim tiêu mô tạo lỗ thủng qua tế bào và màng đáy để thoát ra ngoài thành mạch. Sau đó, dưới tác động của hệ bổ thể, các sản phẩm của vi khuẩn và sản phẩm chuyển hoá của tế bào trong vùng viêm, bạch cầu đa nhân chuyển động có định hướng để tiếp xúc với vật lạ và thực hiện nhiệm vụ thực bào tiêu diệt vật lạ, dọn sạch tổn thương.

XUYÊN TÂM LIÊN (Andrographis paniculata = Justicia paniculata; tk cây lá đắng, công cộng , nguyên cộng, khô đảm thảo), cây thảo họ Ô rô (Acanthaceae). Thân mọc thẳng đứng, cao 0,3 – 0,8 m, nhiều đốt, nhiều cành. Lá nguyên mềm, mọc đối. Hoa trắng điểm hồng, mọc thành chùm hình chuỳ ở nách lá hay đầu cành. Mọc hoang và được trồng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam để làm thuốc. Trong toàn cây XTL có 14 chất glucozit và flavon, với hoạt chất chính là anđrographolit.
Những nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy nước sắc XTL với tỉ lệ 5/1, 2/1 có tác dụng yếu đối với các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Bacillus subtilis. Khi mới thu hái, hàm lượng anđrographolit cao, có tác dụng diệt khuẩn mạnh; càng để lâu (3 – 6 tháng), hàm lượng hoạt chất giảm nhanh, tác dụng diệt khuẩn giảm. Được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam. XTL có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị (nước sắc XTL cùng với bồ công anh, sài đất…).

XỬ LÍ NƯỚC biện pháp cải tạo chất lượng nước cho đạt yêu cầu mong muốn: 1)XLN cấp: nước lấy ở sông, giếng có nhiều chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu sử dụng phải xây dựng trạm xử lí. Các chỉ tiêu cần đạt của nước cấp: độ vô trùng của nguồn nước, độ trong của nguồn nước, các hàm lượng hoá chất, độ cứng, độ ion của nước. Tuỳ chất lượng nguồn nước mà trạm xử lí phải qua các công đoạn gia công cho nước cấp đạt yêu cầu mới bơm vào đường ống cấp cho người sử dụng. 2) LN thải: nước thải từ nơi sinh hoạt, nước phân, nước tiểu, nước thải công nghiệp phải được kiểm dịch chất lượng. Nếu nước thải độc hại về mặt sinh học hay hoá học, phải qua trạm xử lí mới được tháo ra hệ thống thoát nước công cộng hoặc ra sông ngòi.

XỬ LÍ Ô NHIỄM 1. Một phương pháp kĩ thuật hay một quá trình nào đó được thiết kế, xây dựng nhằm mục đích loại bỏ các chất rắn và các chất gây ô nhiễm ra khỏi các loại chất thải rắn, các loại nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp…, và các loại khí thải.
2. Các phương pháp được sử dụng nhằm mục đích làm biến đổi các thành phần hoặc đặc tính sinh học của các loại rác thải bệnh viện để làm giảm đáng kể hoặc là loại bỏ hẳn khả năng gây bệnh của các loại rác thải này.

XỬ LÍ VỆ SINH biện pháp làm mất hiệu lực hay loại trừ chất phóng xạ, chất độc và vi khuẩn khỏi cơ thể người và trang, thiết bị. Bao gồm: tắm rửa, tiêu độc, tẩy xạ và khử khuẩn đối với người, trang phục, phương tiện phòng hộ.

XƯƠNG loại mô liên kết do chất căn bản của mô nhiễm nhiều muối khoáng (canxi, magie…làm cho X là mô rắn nhất trong cơ thể và thực hiện chức năng chống đỡ cho cơ thể. X còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển hoá một số chất, nhất là canxi. Bộ xương người có khoảng 200 X đa dạng (X dài, X ngắn, X dẹt, X nhỏ trong tai, X chứa khí, X vừng…) tiếp nối nhau bằng các loại khớp. Bộ xương người là hệ thống khung, ngoài nhiệm vụ chống đỡ cho toàn bộ cơ thể còn có nhiệm vụ: bảo vệ nội tạng (não, tuỷ sống, tim, phổi, tuỷ xương…); tạo cho cơ thể có tư thế, hình dáng thích hợp với sinh hoạt ở mọi môi trường; thực hiện chức năng vận động. Mọi biến đổi bất thường ở bất cứ điểm nào của bộ xương (gãy, cứng khớp, viêm…) đều gây rối loạn trong hoạt động bình thường của cơ thể người.

XƯƠNG BẢ VAI xương hình tam giác bẹt, rộng tạo thành phần lưng của đai ngực ở đa số động vật có vú và vai người. Mỗi xương bả khớp với xương cánh tay nhờ khớp vai – cánh tay. Xương bả úp lên một phần các xương sườn từ xương số hai đến số bảy và ở đa số động vật có xương sống nó gắn liền với cột sống. Ở động vật có vú, có các cơ bám trên XBV và phía sau ngực cho phép vai có thể cử động tự do.

XƯƠNG BÀN tập hợp các xương hình que tạo nên phần đầu của xương chi ở động vật bốn chi. Ở chi năm ngón điển hình, có 5 XB và có sự phân hoá ở các nhóm động vật khác nhau, vd. ở các loài động vật có vú chạy nhanh như ngựa thì các đốt XB kéo dài ra và nâng lên khỏi mặt đất. Có XB chân và XB tay. XB chân nằm ở phần chi sau của động vật bốn chi và mu bàn chân ở người; gốc XB chân khớp với xương cổ chân và phần ngọn khớp với xương ngón chân. XB tay ở phần chi trước ở động vật bốn chi : các xương này tạo nên một phần của xương chi trước ở động vật bốn chi và lòng bàn tay của người; gốc các XB tay khớp với xương cổ tay và đầu kia khớp với các xương ngón tay.

XƯƠNG BÀN CHÂN x. Xương bàn.

XƯƠNG BÀN ĐẠP xương nhỏ có hình bàn đạp gắn vào cửa sổ bầu dục của tai và ở thú là xương tai nằm trong cùng. Ở lưỡng cư, chim và bò sát, XBĐ là que xương hoặc sụn tạo nên xương tai duy nhất, XNĐ tương đồng với sụn móng hàm của cá.

XƯƠNG BÀN TAY x. Xương bàn.

XƯƠNG BÁN KHUYÊN ba xương hình bán khuyên tạo nên mê lộ tai trong của động vật có xương sống, để kiểm soát sự thay đổi vị trí trong di chuyển của đầu. Các xương này nằm trong túi bầu dục và vuông góc với nhau, ở đầu cuối phình to chứa các tế bào cảm giác. Khi đầu di chuyển trong một mặt phẳng cụ thể, sẽ làm cho nội dịch chuyển về phía sau trong các ống bán khuyên nằm trên mặt phẳng đó và kích thích lên tế bào cảm giác.

XƯƠNG BÁNH CHÈ xương nhỏ nằm phía trước đầu gối; là ổ khớp giữa xương đùi và xương chày chân sau ở đa số động vật có vú, một số loài chim và bò sát. Có dạng quạt (xương vừng) bám vào gân của cơ đùi bốn đầu.

XƯƠNG BỒ thân rễ đã phơi, sấy khô của cây thạch xương bồ (Acorus gramineus) và cây thuỷ xương bồ (Acorus calamus), họ Ráy (Araceae). Trong XB có tinh dầu chứa khoảng 85% asaron, có tính ấm, vị cay, đắng, mùi thơm; được dùng làm thuốc bổ trong đông y. Xt. Thạch xương bồ; Thuỷ xương bồ.

XƯƠNG BÚA xương hình chiếc búa có cán dài tựa vào màng nhĩ. Là xương đầu tiên và lớn nhất của xoang nhĩ ở động vật có vú. Tương đồng với sụn Mecken (Meckel) của cá sụn. XB giữ màng nhĩ ở trạng thái căng liên tục và vừa phải nhờ có trương lực của cơ. Những âm thanh quá mạnh hoặc quá cao gây phản xạ co cơ XB, làm màng nhĩ căng mạnh và sẽ kém rung động, đây là biện pháp bảo vệ tai trong khỏi những tiếng rít hoặc quá ồn.

XƯƠNG CÁNH TAY xương dài từ vai tới khuỷu của chi trước động vật bốn chi. Đầu tròn phía trên khớp với hốc khớp vai – cánh tay (ổ chảo), tạo nên khớp hình cầu. Đầu dưới, xương phân hoá và hình thành nên một mặt khớp (lồi cầu) với xương quai và xương trụ tạo nên khớp khuỷu (xem minh hoạ Chỉ năm ngón).

XƯƠNG CHÀY xương dài, lớn ở ống chân chi sau động vật bốn chi. Diện khớp ở đầu trên khớp ở đầu trên khớp với xương đùi tạo nên khớp bản lề của đầu gối. Đầu dưới khớp với xương mác phía bên và xương cổ chân phía dưới tạo nên khớp mắt cá. Phía trong đầu dưới XC còn có một mấu lồi tạo nên mắt cá trong.

XƯƠNG CỔ CHÂN tập hợp xương tạo nên mắt cá và gót chân ở người và cổ chi sau ở động vật bốn chi (xt. Xương cổ tay). Ở chi năm ngón điển hình, có 12 xương xếp thành ba hàng. Các xương này khớp với nhau và khớp các xương phần đốt bàn ở phía trước. Một XCC, xương sên tạo nên khớp lồi của mắt cá với xương chày và xương mác. XCC cũng có sự phân hoá và tiêu giảm so với sơ đồ chung, vd. ở người chỉ có 7 XCC.

XƯƠNG CỔ TAY tập hợp xương hình thành nên cổ tay người và cổ chi trước ở động vật bốn chân (xt. Xương cổ chân). Ở chi năm ngón điển hình, có 12 xương xếp thành ba hàng và có sự thay đổi ở từng nhóm động vật; vd. ở người chỉ còn 8 XCT, chúng khớp với nhau và khớp với xương bàn. Ba XCT tạo nên khớp xoay với xương quay của chi trước.

XƯƠNG CỘT SỐNG (cg. Xương sống), gồm 5 phần: cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi. Đốt sống có mặt khớp phẳng (đốt platixen) đặc trưng của thú và xen kẽ với các đĩa sụn tròn giữa các đốt. Số đốt cổ không thay đổi (7 đốt) trừ một vài trường hợp ngoại lệ. Xt. Đốt sống.

XƯƠNG CÙNG một hay một số các đốt sống ở phần chậu của cột sống gắn lại với nhau và với xương chậu của đai chậu ở động vật bốn chi, để nâng đỡ khung chậu. Ở người, XC có hình tháp, do năm đốt sống cùng hợp lại, dính liền lại, nằm phía sau dưới của thân mình, khớp với xương chậu ở hai bên để tạo thành chậu hông (x. Chậu). Bình thường giữa đốt sống thắt lưng thứ năm với XC có một khe khớp hẹp. Cùng hoá đốt sống là hiện tượng dính liền đốt sống thắt lưng thứ năm với xương cùng; thường gặp trong một số bệnh viêm và thoái hoá khớp, sau chấn thương, bất động lâu ngày…; điều trị bằng liệu pháp thể dục, liệu pháp vật lí (ngâm nóng, đắp parafin, bùn); nếu cần; mổ chỉnh hình.

XƯƠNG CỤT xương hình tam giác nhỏ ở cuối cột sống của người và một số động vật linh trưởng khác. Do 3 – 5 (thường 4) đốt sống đuôi thoái hoá kết hợp lại.

XƯƠNG ĐE xương hình cái đe, nằm giữa trong ba xương nhỏ của tai trong động vật có vú. Xương này tương đồng với xương vuông của các động vật có xương sống khác.

XƯƠNG ĐÒN đôi xương màng nằm hai bên phần góc cổ có ở một động vật có xương sống, tạo nên các xương quai xanh ở người. Ở nhiều động vật có vú và người, XĐ tạo phần bụng của đai vai, nối liền xương bả vai với xương ức. Tác dụng như một giá treo cho vai. Xt. Xương quay.

XƯƠNG ĐỐT NGÓN chuỗi các xương nhỏ, hình que tạo nên xương các ngón ở chi động vật bốn chi. Ở chi năm ngón điển hình, có 2 đốt ở ngón thứ nhất và ba đốt ở các ngón khác. Ở một số loài, XĐN có thể kéo dài ra hay rút ngắn lại. Giữa các đốt ngón có khớp bản lề và gốc các đốt ngón trong cùng, khớp với xương bàn (xem minh hoạ Chi năm ngón).

XƯƠNG ĐÙI xương dài nằm trong đùi chi sau, giới hạn từ háng đến đầu gối ở động vật bốn chi. Đầu trên XĐ có một chỏm hình bán cầu và khớp với ổ khớp chậu đùi ở đai chậu. Đầu dưới có hai mặt khớp để khớp xương chày tạo nên khớp trụ (khớp bản lề) của đầu gối. Những động vật chạy, nhảy giỏi thường có XĐ dài.

XƯƠNG HÀM TRƯỚC đôi xương màng tạo phần trước hàm trên ở đa số động vật có xương sống. Ở động vật có vú, XHT mang răng cửa.

XƯƠNG HÁNG đôi xương tạo nên thành trước bụng của xoang chậu ở động vật bốn chi. Đôi khi gắn liền tạo nên khớp háng.

XƯƠNG HỔNG đôi xương tạo nên phần lưng của đai chậu ở động vật bốn chi. Ở người, XH chính là phần có dạng quạt của các xương không tên. Mỗi XH ở phía sau gắn với mấu của các đốt sống cùng.

XƯƠNG KHÔNG TÊN (cg. Xương cánh chậu), khối xương tạo nên mỗi nửa của xương chậu ở bò sát, chim và động vật có vú. Do xương hông, xương ngồi và xương háng kết hợp lại.

XƯƠNG KHỚP xương nhỏ ở hàm dưới của cá xương, lưỡng cư và bò sát, khớp với xương vuông của hàm trên. XK có nguồn gốc từ sự hoá xương của sụn Mecken (Meckel) của cá sụn.

XƯƠNG LƯỠI HÁI phần kéo dài ra về phía bụng của xương ức ở chim, dơi, có dạng chiếc lưỡi hái rộng. Là chỗ bám cho các cơ cánh của chim.

XƯƠNG MÁC một trong hai xương dài của cẳng chân sau ở động vật bốn chi. Ở người, XM mảnh và nhẹ. Đầu trên XM khớp với xương chày ngay phía sau và dưới của mặt ngoài đầu gối, đầu dưới gồ lên ở phía dưới bên cạnh xương chày. Ở một số loài, XM tiêu giảm một phần hay tất cả và gắn liền vào xương chày.

XƯƠNG MANG RĂNG xương màng mang răng. Ở động vật có vú là xương hàm dưới, gồm hai xương giống nhau ở hai bên và sau này dính liền với nhau ở phía trước tạo thành một xương.

XƯƠNG MÀNG xương được hình thành do quá trình xương hoá của mô liên kết thay cho sụn. XM thường dẹt, mỏng như các xương ở hộp sọ. Trong các mô liên kết này có chứa một số tế bào sinh xương, về sau nhiễm dần muối canxi photphat tạo nên các tia hay các nan xương rồi thành tấm xương.

XƯƠNG NGỒI xương tạo nên phần sau của mặt bụng ở đai chậu của động vật bốn chi. Ở người, XN có hình chữ L, đi xuống từ ổ khớp chậu đùi và quặt sang xương háng.

XƯƠNG QUAY một trong hai xương dài của phần dưới chi trước ở động vật bốn chi. Ở người, XQ tạo nên bờ trước cánh tay, từ mặt trên khớp khuỷu tới phía ngón cái cổ tay; có thể quay quanh xương trụ lớn hơn trong một khớp trục và cho phép bàn tay lật sấp hoặc lật ngửa. Ở một số động vật, xương trụ và XQ có thể gắn liền lại với nhau.

XƯƠNG SỌ xương đầu của động vật có xương sống và người, cấu tạo từ sụn và (hay) xương, bao bọc và bảo vệ não, chứa nhiều giác quan quan trọng, là nơi bám của các cơ tạo thành phần đầu của hệ hô hấp và tiêu hoá. Trong quá trình tiến hoá, hình dạng XS thay đổi theo sự phát triển của não bộ, các giác quan, các cơ của động vật, và được chia thành hộp sọ và xương mặt.
Ở người, hộp sọ bao quanh não, gồm xương trán, 2 xương thái dương, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm ở phía sau mũi và xương bướm. Xương mặt gồm có xương mũi, xương gò má, xương hàm. Khoang XS được nối với ống sống qua lỗ chẩm lớn . Các mảnh XS ở người trưởng thành liên kết với nhau bằng các đường khớp đầu. Ở trẻ sơ sinh , tại những chỗ nối các mảnh XS có những phần xương chưa khép kín gọi là thóp (x. Thóp).

 

XƯƠNG SÔNG (Blumea lanceolaria, Blumea myriocephala), cây gia vị và làm thuốc, họ Cúc (Asteraceae). Cây thảo, cao hơn 1 mét, sống 2 năm. Thân đứng, nhẵn. Lá thuôn dài, mép có răng cưa. Cụm hoa hình đầu, mọc 2 – 4 cái ở nách các lá bắc. Hoa màu vàng nhạt, mào lông màu trắng. Tràng hoa cái rất mảnh, 3 răng. Tràng hoa lưỡng tính 5 răng, nhị 5. Bao phấn có tai. Bầu có lông. Quả bế hình trụ, 5 cạnh. Mọc dại và được trồng ở nhiều nơi, thường mọc tự nhiên trong vườn do gió thổi các quả bế có lông đi khắp nơi. Lá dùng làm gia vị, nấu canh, hoặc bọc thịt nướng chả. Thân và lá làm thuốc trị ho, giải nhiệt, kích thích tiết mồ hôi.

XƯƠNG SỐNG x. Xương cột sống.

XƯƠNG SỤN loại xương hình thành từ sụn ở trong phôi. Sụn bị các tế bào xương lấn vào và dần dần biến đổi thành xương trong quá trình hoá xương (x. Xương; Nguyên bào xương). Xt. Xương màng.

XƯƠNG SƯỜN nhiều đôi xương mảnh, dẹt, nằm ở vùng thân trước ở đa số động vật có xương sống, gắn với cột sống. Ở người, có 12 đôi khớp với đốt sống ngực ở phía sau, vòng quanh lồng ngực và gắn với xương ức ở phía trước. Tạo thành khu bảo vệ tim và phổi. Chỉ 7 đôi đầu tiên nối trực tiếp với xương ức (XS thật), các đôi thứ 8, 9, 10 không dài tới xương ức mà gắn với mặt bụng của XS khác (XS giả). XS cũng tham gia vào hoạt động thở. Ở nhiều loài cá, có hai loại XS, các XS phía lưng gắn với các đốt sống phần thân và nằm giữa các khối cơ, các xương phía bụng (xương dăm) không nối với các đốt sống mà khớp với XS lưng, có tác dụng nâng đỡ nội quan.

XƯƠNG TAI loại xương nằm trong tai giữa ở các loài động vật có vú. Có bốn xương: xương búa, xương đe, xương hạt đậu, xương bàn đạp, tạo nên hệ thống đòn bẩy truyền dao động sóng âm từ tai ngoài vào màng nhĩ và qua cửa trong vào tai trong. Các XT tương đồng các xương hàm ở động vật có xương sống bậc thấp (x. Xương Vebơ).

XƯƠNG TRÂM ĐUÔI phần cuối cùng của cột sống, gồm một số đốt sống đuôi gắn liền với nhau ở cóc, ếch, nhái (bộ Không đuôi).

XƯƠNG TRỤ một trong hai xương dài trong phần chi trước ở động vật bốn chi. Ở người, XT tạo nên bờ sau cẳng tay, kéo dài về phía sau khuỷu tới cổ tay và nằm song song với xương quay. Đầu trên XT giống như một cái móc tạo thành một mỏm nhọn của khuỷu và mặt cong phía trong khớp với đầu dưới xương cánh tay.

XƯƠNG ỨC xương hình khiên hay que nằm ở đường giữa mặt bụng của ngực ở động vật bốn chi, thường là chỗ bám mặt bụng của các xương sườn. Ở chim và dơi, XƯ là chỗ bám của cơ cánh. Ở người, XƯ là xương dẹt, dài, khớp với xương đòn ở đầu trên và khớp với xương sườn ở hai bên.

XƯƠNG VẢY một trong hai xương nằm phía bên hộp sọ ở đa số các loài động vật có xương sống. Ở động vật có vú, mỗi xương có mấu gò má lồi về phía trước tai, cong lên trên và khớp với phần sau của xương gò má để tạo thành xương má và có mặt dưới khớp với mặt khớp của xương hàm dưới.

XƯƠNG VEBƠ (A. Weberian ossiles), một chuỗi ba hay bốn đôi xương ở một số loài cá (thuộc họ Cá chép) nối giữa bóng khí với mê lộ. XV do bốn đốt sống đầu tiên biến đổi bóng khí với mê lộ. XV do bốn đốt sống đầu tiên biến đổi thành và là cơ quan thuỷ tĩnh của cá, tương đồng với xương tai của động vật có xương sống bậc cao. Sự thay đổi áp suất được truyền từ bóng khí vào tai trong qua XV, nhờ đó mà cá nhận biết vị trí của nó ở trong nước.

XƯƠNG VUÔNG đôi xương hàm trên của cá xương, lưỡng cư, bò sát và chim, tạo nên điểm khớp với xương hàm dưới. Tương đồng với khẩu cái vuông ở cá sụn.

published: HoaSúng Santé

Advertisements
This entry was posted in Từ điển y học Việt Nam. Bookmark the permalink.