Các xu hướng và kỹ thuật mới trong chẩn đoán hình ảnh

Hội nghị thường niên của Hội điện quang Bắc Mỹ (RSNA) trong những năm gần đây đã chứng kiến sự thay đổi xu hướng từ tập trung vào thiết bị hình ảnh sang tập trung vào công nghệ thông tin hình ảnh. Sự tập trung vào phần mềm tiếp tục được thể hiện trong hội nghị năm nay (2012), một trong những lý do góp phần thúc đẩy xu hướng này là do các cơ sở y tế tại Mỹ đang trong quá trình cải tổ để đạt được chuẩn Giai đoạn 1 và 2 theo yêu cầu của Trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và trợ giúp sức khỏe Mỹ (CMS). Có thể nhìn thấy 2 xu hướng qua các thiết bị được triển lãm tại hội nghị RSNA năm nay – hệ thống xem hình ảnh chẩn đoán từ xa và thiết kế các quy trình làm việc hiệu quả.

 

 Đầu dò siêu âm không dây của Siemens (Imaging Technology News)

Năm nay chứng kiến một sự gia tăng về số lượng các hệ thống xem hình ảnh từ xa có khả năng truy cập dữ liệu qua trình duyệt web hoặc chuyển tiếp hình ảnh từ một PACS tới các bác sỹ. Đây cũng chính là yêu cầu đối với khoa chẩn đoán hình ảnh trong Giai đoạn 2 để tăng khả năng truy cập ảnh chẩn đoán trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, nhìn chung khả năng truy cập vào dữ liệu hình ảnh chẩn đoán còn khá hạn chế, chỉ có một bác sĩ được cấp quyền truy cập vào PACS của bệnh viện hoặc trung tâm chẩn đoán mới có khả năng này. Trong đa số trường hợp, việc di chuyển dữ liệu sẽ thực hiện qua đĩa CD. Việc chuyển dữ liệu bằng cách này có một số nhược điểm như mất thời gian và đĩa CD có thể bị hư hỏng. Trong những trường hợp này, việc chụp ảnh lại là bắt buộc và sẽ làm tăng chi phí và liều bức xạ cho bệnh nhân.

 Các hệ thống xem ảnh từ xa mới cho phép truy cập vào dữ liệu hình ảnh và báo cáo qua các mô đun cho một hệ thống PACS, các hệ thống độc lập (standalone) của bên thứ 3 được kết nối đến hệ thống lưu trữ của bệnh viện, việc truy cập này sẽ thực hiện qua Internet. Hầu hết các hệ thống này dựa trên nền tảng Web/điện toán đám mây nên có thể dễ dàng truy cập từ bên ngoài hoặc từ hệ thống máy tính của bệnh viện. Các hệ thống này cũng cung cấp các phương pháp mã hóa dữ liệu và mật khẩu bảo vệ đáp ứng yêu cầu của HIPAA.

 Một số nhà sản xuất đã tập trung tiếp thị cho tính đơn giản của những hệ thống này cho bệnh nhân trong việc truy cập dự liệu hình ảnh và báo cáo của họ. Thay vì phải mang một đĩa CD, họ có thể chỉ cần đưa mã truy cập cho bác sĩ, người có thể truy cập dữ liệu. Một số nhà sản xuất còn lôi cuốn bệnh nhân với các ứng dụng iPad/iPhone.

 Cải tiến hiệu quả cho quy trình làm việc (workflow) cũng là một xu hướng của năm nay. Do tình hình kinh tế khó khăn, khoa chẩn đoán hình ảnh nói riêng và bệnh viện nói chung phải có biện pháp cải tổ, giảm chi phí hoạt động, vì vậy các nhà sản xuất phải tìm cách tăng mức độ tự động và cải tiến hiệu quả công việc trong các sản phẩm của mình. Các hệ thống chụp ảnh và phần mềm đang trở nên linh hoạt hơn giúp giảm bớt thời gian chụp hình và chẩn đoán. Những ví dụ cho xu hướng này là các công cụ trực quan hóa có thể tự động phân đoạn và định lượng các cấu trúc giải phẫu hoặc chức năng, tiết kiệm thời gian cho nhân viên y tế. Đơn giản hóa, tự động hóa cách thức hoạt động của hệ thống chụp ảnh giúp các kỹ thuật viên, bác sĩ kiểm tra nhanh hơn và hiệu quả hơn, đặc biệt trên các hệ thống phức tạp như CT và MRI.

 Những tiến bộ trong lĩnh vực mammography (X-quang vú):

Hai kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe phụ nữ đáng chú ý được triển lãm tại hội nghị RSNA năm nay là siêu âm ngực và các phần mềm chuyên về mô ngực đặc (breast density). Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến mammography  cũng được báo cáo.

GE Healthcare giới thiệu hệ thống siêu âm ngực tự động somo-v, đây là thiết bị do công ty U-Systems chế tạo nhưng nay đã thuộc về GE sau vụ thâu tóm của nhà sản xuất thiết bị y tế nổi tiếng này. Hệ thống siêu âm somo-v là hệ thống siêu âm tự động đầu tiên được FDA chứng nhận để chụp ảnh cho các phụ nữ có mô ngực đặc. Được sử dụng chung với hệ thống mammography, hệ thống này sẽ làm tăng 30% khả năng chẩn đoán ung thư vú ở các phụ nữ có mô ngực đặc. Các nhà sản xuất khác cũng trình diễn các hệ thống có chức năng tương tự.

Hiện nay, luật pháp tại nhiều bang của Mỹ bắt buộc bác sĩ phải thông báo cho bệnh nhân nếu họ có mô ngực đặc để các bệnh nhân hiểu rằng họ có nguy cơ bị chẩn đoán nhầm và cần các biện pháp kiểm tra khác như PET, MRI hoặc siêu âm. Các nhà sản xuất đã giới thiệu nhiều phiên bản phần mềm để giúp các bác sĩ đáp ứng yêu cầu này. Các phần mềm mới cung cấp những biện pháp để đo độ đặc giúp kết quả không bị phụ thuộc vào nhận định chủ quan của bác sĩ.

Matakina International đã đưa ra phiên bản mới của phần mềm Volpara Imaging, hỗ trợ nhiều loại mammography kỹ thuật số hơn trong việc tạo các báo cáo về mô ngực đặc. Các hệ thống mammography kỹ thuật số đều cung cấp thông số phần trăm mô ngực đặc nhưng có sự khác biệt trong công thức tính giữa các hãng và các dòng máy. Hệ thống Volara có thể sử dụng cho hầu hết các hệ thống mammography thông dụng trên thị trường gồm Fujifilm, Philips, IMS Giotto và Medi-Future, và đang thực hiện các nghiên cứu cho thiết bị của GE, Hologic và Siemens. Hệ thống này phân tích mỗi pixel và sử dụng các khu vực có 100% là mô mỡ để làm đường nền (baseline) xây dựng các “density map”. Sau đó phần mềm tự động tạo ra các báo cáo với tỉ lệ phần trăm mô sợi tuyến (fibroglandular), thể tích mô ngực và mô ngực đặc. Phần mềm sử dụng phân loại mật độ BIRADS.

Philips Healthcare cũng giới thiệu một phần mềm đang trong quá trình phát triển cho hệ thống mammography MicroDose SI. Hệ thống này sử dụng kỹ thuật “single-shot spectral imaging (SI)” để đo mật độ mà không cần thực hiện thêm các ca chụp X-quang kiểm tra bổ sung. Kỹ thuật này thực hiện bằng cách chụp hai ảnh mammo và tính số photon để đo mật độ.

Những hướng dẫn còn tranh cãi của tổ chức USPSTF (Mỹ) đưa ra năm 2009 khuyến nghị các phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi nên đi chụp mammography hai năm một lần, trái ngược với các đề nghị truyền thống là việc chụp mammography nên bắt đầu cho mọi phụ nữ trên 40 tuổi.

Các xu hướng khác:

– Béo phì đang là vấn nạn của nước Mỹ, vì vậy nhiều nhà sản xuất đang chú ý đến nhóm bệnh nhân này với các thay đổi trong thiết kế các bộ phận của thiết bị như kích thước bàn, C-arm, transducer để xuyên mô mỡ tốt hơn.

– Màn hình phẳng sử dụng công nghệ LED là xu hướng hiện nay. Các màn hình hiện nay bền hơn, có độ phân giải cao hơn và có khả năng tự hiệu chuẩn tốt hơn. Các hệ thống hiệu chuẩn cũng cho phép kiểm tra chất lượng từ xa với các cảm biến được gắn bên trong, tiện lợi hơn việc phải đến bệnh viện hiệu chuẩn từng màn hình.

– Các giải pháp tiết kiệm là điểm nhấn năm nay. Bắt đầu từ hội nghị RSNA năm ngoái, các nhà sản xuất bắt đầu giảm bớt sự chú ý đến các sản phẩm cao cấp, các hệ thống đắt tiền vì tình hình kinh tế khó khăn. Ví dụ, nhiều nhà sản xuất đã đưa ra giải pháp cho các bệnh viện nhỏ sử dụng một tấm thu X-quang kỹ thuật số DR không dây trên nhiều thiết bị đề giảm chi phí đầu tư.

– Các giải pháp theo dõi liều bức xạ là chủ đề đã được chú ý từ các hội nghị RSNA trước nhưng năm nay được nhấn mạnh vì nhiều bang tại Mỹ bắt đầu thực hiện các yêu cầu bắt buộc bệnh viện phải ghi lại liều trên bệnh nhân.

 Các kỹ thuật mới

– Đầu dò không dây: Siemens đã giới thiệu hệ thống siêu âm với đầu dò không dây đầu tiên trên thế giới. Hệ thống có tên gọi Acuson Freestyle không cần cáp nối giữa đầu dò với thân máy chính. Acuson Freestyle là dạng thiết bị chăm sóc tại chỗ có khả năng giúp mở rộng việc sử dụng siêu âm vào các ứng dụng can thiệp và điều trị. Đầu dò có thể hoạt động trong bán kính khoảng 3m từ máy chính. Siemens nói rằng họ hi vọng sẽ có thể cải tiến và mở rộng công nghệ đầu dò không dây này trên các hệ thống khác của hãng trong những năm tới.

– MRI không tiếng ồn: GE Healthcare giới thiệu công nghệ Silent Scan giúp giảm tiếng ồn của máy MRI. GE đang xin chứng nhận FDA cho công nghệ này và hi vọng sẽ đưa ra thị trường vào năm 2013 với model được áp dụng là MR450W. Việc kết hợp giữa phần mềm với cách tạo chuỗi xung mới giúp giảm tiếng ồn ngang với mức mâ thanh nền

– Máy CT 640 lát cắt: Toshiba đã giới thiệu máy CT Aquilion One Vision 640 lát cắt tại RSNA năm nay.Nhà sản xuất Nhật Bản này cũng đã từng đưa ra hệ thống CT có số lát cắt nhiều nhất trên thị trường – Aquilion One 320 lát cắt. Aquilion One Vision được trang bị gantry có tốc độ quay 0,275 giây, bộ tạo nguồn (generator) 100kW và 320 dãy detector (640 lát cắt), một vòng xoay có thể quét phần cơ thể có độ dài 16cm, độ dày lát cắt chỉ 0,5 mm – mỏng nhất trong các hệ thống trên thị trường. Hệ thống này có thể sử dụng cho bệnh nhân béo phì với khoảng trống để đẩy bệnh nhân vào có kích thước lớn (78 cm), ngoài ra tốc độ quay nhanh cho hình ảnh tốt ở các bệnh nhân có nhịp tim nhanh.

 Máy CT 640 lát cắt của Toshiba (Imaging Technology News)

– Peri-Operative MRI: Philips đã giới thiệu thế hệ tiếp theo của dòng máy MRI Ingenia MR-OR cho phẫu thuật thần kinh. Hệ thống này sử dụng một căn phòng có lớp bảo vệ với các cửa được mở về hai phòng mổ ở hai hướng khác nhau. Một hệ thống thanh trượt cho phép một bàn mổ tương thích với môi trường MRI chuyển bệnh nhân vào vị trí chụp hình, sau đó chuyển trở lại phòng mổ. Philips đang cố gắng giành vi trí dẫn đầu trong lĩnh vực MRI can thiệp. Philips cũng đang phát triển một hệ thống MRI thời gian thực có tác dụng như là một hệ thống chụp ảnh can thiệp để thay thế các máy chụp mạch (angiography) trong các ca phẫu thuật can thiệp phức tạp. Loại thiết bị này đã được sử dụng tại Mỹ.

– Màn hình OLED: Công nghệ màn hình phẳng đã chuyển từ màn hình CRT sang LCD từ thập kỷ trước. Xu hướng phát triển tiếp theo trong công nghệ màn hình là OLED, có các phần tử nhỏ hơn, đáp ứng nhanh hơn màn hình LCD, cho phép hiển thị các chuyển động nhanh mà không bị nhòe hình. Sony đã giới thiệu PVM-2551MD – màn hình OLED chuẩn y tế mới của mình, ứng dụng các công nghệ cho phép tạo ra màu đen chuẩn, đồng nhất giúp hiển thị các tín hiệu một cách trung thực. Với các màn hình có tính năng tạo màu tốt đặc biệt là ảnh tối, các bác sĩ phẫu thuật có thể quan sát thất những chi tiết nhỏ nhất như sự khác nhau giữa các mô và mạch máu.

 

Cuộn dây MRI dẻo (Imaging Technology News)

– Cuộn dây MRI dẻo: GE, Toshiba và Philips đều giới thiệu cuộn dây MRI dẻo để uốn theo cấu trúc giải phẫu của bệnh nhân tốt hơn so với các cuộn dây cứng hiện nay. Cuộn dây dẻo có thể cho chất lượng hình ảnh tốt hơn vì bám sát với cơ thể hơn và tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân

 Các xu hướng đang diễn ra tại nước Mỹ, nhưng với tốc độ phát triển và chuyển giao công nghệ hiện nay, có lẽ trong tương lai không xa các công nghệ mới này sẽ được đưa tới các nước đang phát triển như Việt Nam.

                                                                      Minh Quân / bmevn


Advertisements
This entry was posted in Chẩn đoán hình ảnh. Bookmark the permalink.